Chủ tịch Quốc hội: Tăng thuế BVMT đối với xăng dầu thời điểm này là… không thuận

Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho rằng, đánh giá tác động của việc sửa đổi lần này vẫn chủ yếu tập trung vào việc tăng thu NSNN, hoặc để thuận tiện cho công tác quản lý của cơ quan nhà nước nên sẽ khó thuyết phục dư luận và sự đồng tình của xã hội.
Thứ Năm, ngày 14/09/2017 10:19 GMT +7

Chiều ngày 13/9, tiếp tục chương trình phiên họp thứ 14, Ủy ban thường vụ Quốc hội cho ý kiến về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế bảo vệ môi trường (BVMT).

Chủ tịch Quốc hội: Tăng thuế BVMT đối với xăng dầu thời điểm này là… không thuậnBộ trưởng Bộ Tài chính trình bày dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế bảo vệ môi trường

2012-2016: Số thu thuế BVMT liên tục tăng ổn định qua các năm

Báo cáo của Chính phủ cho biết, tổng số thu thuế BVMT giai đoạn 2012-2016 khoảng105.985 tỷ đồng, bình quân khoảng 21.197 tỷ đồng/năm, chiếm tỷ trọng khoảng 1,48%-4,27% trên tổng thu NSNN và khoảng 0,34%-0,98% trên tổng sản phẩm trong nước (GDP) hàng năm.

Trong đó: năm 2012 là 11.160 tỷ đồng; năm 2013 là 11.512 tỷ đồng; năm 2014 là 11.970 tỷ đồng; năm 2015 là 27.020 tỷ đồng; năm 2016 khoảng 44.323tỷ đồng.

Khoản thu từ thuế BVMT không phải là khoản thu mang tính đối giá và hoàn trả trực tiếp, không quy định sử dụng cho các nhiệm vụ chi cụ thể mà để thực hiện các nhiệm vụ chi theo quy định của Luật NSNN và được Quốc hội phê duyệt hàng năm.

Tờ trình của Chính phủ về Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của

Luật thuế Bảo vệ môi trường cũng cho biết, tổng chi NSNN cho các nhiệm vụ BVMT giai đoạn 2012-2016 (bao gồm cả các khoản vay, viện trợ đã đưa vào NSNN để chi thường xuyên cho BVMT hoặc chi đầu tư phát triển BVMT; chưa tính chi các hoạt động kinh tế, chi đầu tư phát triển, chi dự phòng của ngân sách địa phương cho các nhiệm vụ BVMT và các khoản vay, viện trợ chi trực tiếp cho dự án về BVMT không đưa vào NSNN) khoảng 131.857 tỷ đồng, bình quân khoảng 26.371 tỷ đồng/năm, cao hơn số thu thuế BVMT giai đoạn 2012-2016.

Số tiền chi cho Chương trình khắc phục ô nhiễm và cải thiện môi trường, Chương trình ứng phó với biến đổi khí hậu...) khoảng 24.246 tỷ đồng.

Tổng chi từ dự phòng ngân sách trung ương để phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, hỗ trợ các địa phương xử lý các nhiệm vụ đột xuất, cấp bách trong năm như đê kè, hồ chứa... khoảng 18.480 tỷ đồng.

Ngoài ra, còn một số nội dung, nhiệm vụ do NSNN chi trả góp phần BVMT như: các dự án, chương trình khoa học công nghệ ứng dụng công nghệ xanh, bền vững...

Đề xuất tăng kịch trần thuế suất đối với xăng dầu

Bộ trưởng Bộ Tài chính Đinh Tiến Dũng cho biết, qua tổng kết, đánh giá tình hình thực hiện cho thấy chính sách thuế BVMT đã bộc lộ một số vướng mắc cần được hoàn thiện, cụ thể:

- Cần thiết sửa đổi, bổ sung quy định về phạm vi điều chỉnh để bao quát các nội dung được quy định tại Luật.

- Cần thiết sửa đổi, bổ sung quy định về giải thích từ ngữ đối với túi ni lông thuộc diện chịu thuế, dung dịch hydro-chloro-fluoro-carbon (HCFC); quy định về đối tượng chịu thuế đối với xăng, dầu, mỡ nhờn, dung dịch HCFC và túi ni lông thuộc diện chịu thuế để nâng cao tính pháp lý,bao quát các trường hợp phát sinh trong thực tế.

- Cần thiết sửa đổi, bổ sung quy định về đối tượng không chịu thuế, hoàn thuế và bổ sung quy định về khấu trừ thuế để đảm bảo tính thống nhất, phù hợp với Luật Hải quan, Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, đồng thời đảm bảo nguyên tắc thuế BVMT chỉ thu đối với hàng hóa khi sử dụng gây tác động xấu đến môi trường tại Việt Nam.

- Cần thiết bổ sung quy định về mức thuế BVMT đối với nhiên liệu hỗn hợp chứa nhiên liệu sinh học và xăng, dầu, mỡ nhờn gốc hóa thạch (như: xăng E5, E10...) để góp phần khuyến khích sản xuất và sử dụng các loại nhiên liệu hỗn hợp này, hạn chế sử dụng nhiên liệu hóa thạch gây ô nhiễm môi trường.

Về việc tăng thuế BVMT đối với xăng dầu, người đứng đầu Bộ Tài chính cho biết, xăng dầu là sản phẩm chứa các chất hóa học, khi sử dụng gây ảnh hưởng xấu đến môi trường ở diện rộng.

Vì thế, đề xuất điều chỉnh mức thuế BVMT đối với xăng dầu lên mức tối đa trong khung thuế. Theo đó, mức thuế tối thiểu điều chỉnh tăng bằng mức thuế cụ thể đang áp dụng; mức thuế tối đa điều chỉnh tăng bằng 2 lần mức thuế tối đa trong khung thuế hiện hành (không áp dụng lộ trình).

Đề xuất này dựa trên cơ sở tính toán các yếu tố:

- Việc thực hiện cắt giảm dần thuế nhập khẩu theo cam kết trong các hiệp định thương mại tự do (hiện nay, Việt Nam đã và đang tham gia 11 hiệp định thương mại tự do);

- Chủ động ứng phó khi giá dầu thế giới có biến động bất thường, khó lường;

- Xăng dầu là sản phẩm khi sử dụng gây tác động xấu đến môi trường;

- Tỷ lệ thuế (gồm: thuế nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế BVMT, thuế giá trị gia tăng) trên giá cơ sở của Việt Nam đang ở mức thấp (37,49% đối với xăng; 20,76% đối với dầu diesel; 11,59% đối với dầu hỏa; và 19,13% đối với dầu mazút) so với nhiều nước (Hàn Quốc khoảng 65%, Campuchia khoảng 51%, Lào khoảng 58%, Philippines khoảng 49%, Trung Quốc khoảng 56%, Singapore khoảng 70%, Hồng Kông khoảng 77%, Thái Lan khoảng 57%).

Riêng đối với dầu hỏa, đề nghị giữ khung thuế BVMT như hiện hành vì dầu hỏa là mặt hàng thiết yếu phục vụ cho đa số người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng sâu, vùng xa.

Ngoài ra, đề nghị đổi đơn vị tính đối với dầu mazut từ “lít” thành “kg” cho phù hợp với thực tế.

Khung thuế BVMT đối với xăng dầu theo đề xuất của cơ quan soạn thảo

STT

Hàng hóa

Đơn vị tính

Khung mức thuế

(đồng/1 đơn vị hàng hóa)

Hiện hành

Dự kiến điều chỉnh

I

Xăng, dầu, mỡ nhờn gốc hóa thạch, bao gồm

1

Xăng

lít

1.000-4.000

3.000-8.000

2

Nhiên liệu bay

lít

1.000-3.000

3.000-6.000

3

Dầu diesel

lít

500-2.000

1.500-4.000

4

Dầu hỏa

lít

300-2.000

300-2.000

5

Dầu mazut

kg

300-2.000

900-4.000

6

Dầu nhờn

lít

300-2.000

900-4.000

7

Mỡ nhờn

kg

300-2.000

900-4.000

Như vậy, theo tính toán, với mức thuế BVMT hiện hành đối với xăng gốc hóa thạch là 3.000 đồng/lít thì mức thuế BVMT đối với xăng E5 theo đề xuất trên là 2.400 đồng/lít (thấp hơnxăng gốc hóa thạch là 600 đồng/lít) và mức thuế BVMT đối với xăng E10 theo đề xuất trên là 2.100 đồng/lít (thấp hơnxăng gốc hóa thạch là 900 đồng/lít).

Đề nghị Chính phủ tiếp tục nghiên cứu để sửa đổi một cách toàn diện Luật Thuế BVMT

Trình bày báo cáo thẩm tra dự án Luật, Chủ nhiệm Ủy ban Tài chính, Ngân sách Nguyễn Đức Hải nêu rõ, Thường trực Uỷ ban Tài chính, Ngân sách cơ bản nhất trí với Tờ trình của Chính phủ về sự cần thiết phải sửa đổi Luật. Tuy nhiên, Thường trực Uỷ ban Tài chính, Ngân sách cho rằng, nội dung của Tờ trình và Dự thảo luật chưa thực sự đảm bảo để thực hiện các mục tiêu đề ra, do đó đề nghị Chính phủ cần tiếp tục nghiên cứu để sửa đổi một cách toàn diện Luật Thuế bảo vệ môi trường.

Dự thảo luật chưa phù hợp với chiến lược cải cách về thuế bảo vệ môi trường; chỉ điều chỉnh tăng khung thuế suất của một số hàng hoá nhất định, trong khi hiện nay mức thuế thực tế đang thực hiện ở một số loại hàng hoá có số thu chính, chủ yếu, quan trọng, chiếm tỷ lệ trên 93% tổng số thu thuế bảo vệ môi trường (xăng, dầu diezel, dầu mazut...) vẫn chưa điều chỉnh tăng đến mức trần.

Bên cạnh đó, đánh giá tác động của việc sửa đổi lần này chưa thực sự thuyết phục, chưa làm rõ được những tác động cụ thể đến doanh nghiệp, người dân, tăng trưởng kinh tế..., vẫn chủ yếu tập trung vào việc tăng thu NSNN, hoặc để thuận tiện cho công tác quản lý của cơ quan nhà nước nên sẽ khó thuyết phục dư luận và sự đồng tình của xã hội.

Về nội dung cụ thể, đối với túi ni lông thuộc diện chịu thuế, đa số ý kiến trong Thường trực Uỷ ban Tài chính, Ngân sách đề nghị cần bổ sung các sản phẩm màng ni lông, tấm ni lông, dải ni lông, cuộn ni lông dạng ống... được làm từ màng nhựa polyetylen vào đối tượng chịu thuế tương tự như túi, bao bì để bảo đảm thống nhất với việc sửa đổi về đối tượng chịu thuế đối với dung dịch HCFC.

Về bổ sung đối tượng chịu thuế bảo vệ môi trường, Tờ trình Chính phủ giải trình về việc chưa bổ sung một số đối tượng gây ô nhiễm môi trường vào đối  tượng chịu thuế bảo vệ môi trường trong lần sửa đổi lần này (như ắc quy, máy tính, lốp xe, hóa chất tẩy rửa, thuốc bảo vệ thực vật không khuyến khích, phốt pho vàng...).

Thường trực Uỷ ban Tài chính, Ngân sách đề nghị Chính phủ cần nghiên cứu, xem xét, lựa chọn những sản phẩm gây ảnh hưởng đến môi trường được sử dụng phổ biến để bổ sung vào diện chịu thuế, góp phần hạn chế việc sử dụng quá mức các chất gây ô nhiễm môi trường trong dân cư, bảo đảm bao quát đầy đủ các đối tượng gây ô nhiễm môi trường.

Do còn nhiều ý kiến khác nhau giữa cơ quan soạn thảo và cơ quan thẩm tra, qua nghiên cứu Tờ trình của Chính phủ và nghe qua các phương tiện thông tin đại chúng, dư luận xã hội, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân cho rằng, trong tình hình hiện nay việc  tăng thuế suất không thuận vì Thủ tướng Chính phủ đang mong muốn tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, tạo không khí phấn khởi cho nhân dân làm ăn. Dự án Luật sửa đổi lần này còn nhiều ý kiến khác nhau quá.

Vì vậy, Chủ tịch Quốc hội đề nghị Bộ Tài chính về báo cáo Chính phủ chuẩn bị thêm, cần chuẩn bị toàn diện hơn, bao quát hơn những đối tượng phải chịu thuế bảo vệ môi trường và hợp lý giữa những đối tượng chịu thuế, những sản phẩm mặt hàng chịu thuế.

 Đồng thời, Tờ trình phân tích sự cần thiết sửa đổi luật này tính thuyết phục chưa thực sự cao, cần xem xét lại.

Kết luận nội dung thảo luận, Phó Chủ tịch Quốc hội Phùng Quốc Hiển nêu rõ, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đề nghị Chính phủ về nghiên cứu thêm, cân nhắc và tiếp thu đầy đủ ý kiến tại phiên họp này để hoàn thiện lại dự án Luật trình Ủy ban thường vụ Quốc hội xem xét tại các phiên họp sau./.

Theo An Nhi/Tạp chí Kinh tế và Dự báo

van.vn - chuyên trang đánh giá, tư vấn và tin tức về công nghệ, sản phẩm hàng đầu Việt Nam.

Link gốc: http://doanhnhan.net/chu-tich-quoc-hoi-tang-thue-bvmt-doi-voi-xang-dau-thoi-diem-nay-la-khong-thuan-116473.html
Tin mới nhất[+] Xem tất cả